Từ lợi thế khác biệt đến nguồn lực hội nhập
Trong dòng chảy hội nhập quốc tế hiện nay, lợi thế cạnh tranh của mỗi địa phương không chỉ nằm ở quy mô kinh tế hay nguồn tài nguyên, mà ngày càng được quyết định bởi khả năng tạo dựng hình ảnh, sức hấp dẫn và bản sắc riêng. Văn hóa vì thế trở thành "tấm hộ chiếu mềm" để một vùng đất bước ra thế giới.
Ít có địa phương nào sở hữu sự kết hợp hài hòa giữa chiều sâu lịch sử, sự đa dạng văn hóa và cảnh quan thiên nhiên như Tuyên Quang. Đó là Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến với Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào - biểu tượng của cách mạng Việt Nam; là Lễ hội Thành Tuyên đã trở thành thương hiệu văn hóa đặc sắc; là Không gian văn hóa Then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái được UNESCO ghi danh; là Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn sau hợp nhất, cùng hệ thống danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa, lễ hội truyền thống và kho tàng văn hóa của 46 dân tộc anh em.
Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng xác định rõ quan điểm lấy văn hóa, con người làm nền tảng, sức mạnh nội sinh cho phát triển bền vững; phát triển du lịch trở thành động lực tăng trưởng, gắn bảo tồn di sản với phát triển kinh tế, đồng thời đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và quảng bá hình ảnh địa phương.
Những lợi thế ấy nếu chỉ dừng ở bảo tồn sẽ mới là tiềm năng. Chỉ khi được kết nối với các hoạt động đối ngoại, du lịch, đầu tư và truyền thông quốc tế, các giá trị văn hóa mới thực sự trở thành sức mạnh mềm của địa phương.

Cột cờ Quốc gia Lũng Cú. Ảnh: Sưu tầm
Không chỉ quảng bá, mà phải tạo dựng thương hiệu văn hóa của tỉnh
Chiến lược văn hóa đối ngoại đặt ra yêu cầu cao hơn việc tổ chức các hoạt động giao lưu hay giới thiệu hình ảnh. Điều quan trọng là mỗi địa phương phải xây dựng được câu chuyện, thương hiệu và thông điệp riêng có khả năng lan tỏa lâu dài.
Đối với Tuyên Quang, điều đó trước hết đòi hỏi phải sớm xây dựng và triển khai đồng bộ kế hoạch thực hiện Chiến lược gắn chặt với Quy hoạch tỉnh, các chương trình phát triển văn hóa, du lịch, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và xúc tiến đầu tư.
Mỗi nhiệm vụ cần được lượng hóa bằng sản phẩm cụ thể, xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ chế phối hợp và lộ trình thực hiện. Văn hóa đối ngoại không thể là nhiệm vụ riêng của ngành văn hóa hay ngành đối ngoại, mà phải trở thành nội dung xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển của tỉnh.
Quan trọng hơn, cần xác định rõ đâu là những giá trị tiêu biểu nhất để xây dựng hình ảnh thống nhất của Tuyên Quang trong mắt bạn bè quốc tế. Một địa phương không thể quảng bá tất cả mọi thứ cùng lúc, mà cần lựa chọn những biểu tượng có sức nhận diện cao, có khả năng kể câu chuyện về lịch sử, văn hóa và con người Tuyên Quang.
Đưa văn hóa lên không gian số để vượt qua giới hạn địa lý
Trong thời đại số, sức lan tỏa của văn hóa không còn phụ thuộc hoàn toàn vào khoảng cách địa lý.
Nếu trước đây một lễ hội chỉ thu hút những người trực tiếp tham dự thì ngày nay, chỉ với một video ngắn, một triển lãm số hay một bảo tàng trực tuyến, hình ảnh địa phương có thể tiếp cận hàng triệu người trên thế giới.
Đây là hướng đi Tuyên Quang cần ưu tiên trong giai đoạn tới.
Không chỉ dừng ở việc xây dựng website hay cổng thông tin, tỉnh cần phát triển hệ thống dữ liệu số về di sản, lễ hội, điểm đến, nghệ thuật truyền thống, sản phẩm OCOP, ẩm thực và danh lam thắng cảnh; xây dựng các sản phẩm truyền thông đa ngôn ngữ bằng tiếng Anh, tiếng Trung và các ngôn ngữ phù hợp với từng thị trường; ứng dụng công nghệ số, mã QR, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng trực tuyến trong giới thiệu văn hóa, du lịch và lịch sử địa phương.
Đầu tư cho chuyển đổi số trong văn hóa đối ngoại thực chất là đầu tư cho khả năng tiếp cận toàn cầu với chi phí thấp nhưng hiệu quả lâu dài.
Để mỗi hoạt động đối ngoại đều là một cơ hội quảng bá Tuyên Quang
Hiệu quả của văn hóa đối ngoại không được đo bằng số lượng sự kiện tổ chức, mà bằng khả năng tạo ra hợp tác, thu hút nguồn lực và nâng cao vị thế địa phương.
Mỗi đoàn khách quốc tế đến Tuyên Quang, mỗi chuyến công tác nước ngoài của lãnh đạo tỉnh, mỗi hội nghị xúc tiến đầu tư, hội chợ thương mại hay sự kiện du lịch đều cần được thiết kế như một không gian quảng bá văn hóa.
Khi nhà đầu tư đến khảo sát, họ không chỉ tìm kiếm cơ hội kinh doanh mà còn đánh giá môi trường văn hóa, chất lượng nguồn nhân lực và bản sắc địa phương. Khi du khách quốc tế trải nghiệm Lễ hội Thành Tuyên, khám phá Tân Trào, thưởng thức Then hay đến với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, điều họ mang về không chỉ là những bức ảnh đẹp mà còn là cảm nhận về một vùng đất giàu truyền thống, cởi mở và thân thiện.
Đó cũng là lý do văn hóa đối ngoại cần gắn chặt với ngoại giao kinh tế, xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch và thông tin đối ngoại để tạo nên sức mạnh tổng hợp.
Quan trọng hơn cả, sức mạnh mềm không thể được xây dựng chỉ bằng nỗ lực của cơ quan nhà nước. Các sở, ngành cần phối hợp chặt chẽ trong tổ chức thực hiện; doanh nghiệp trở thành những đại sứ quảng bá thương hiệu địa phương; nghệ nhân, văn nghệ sĩ tiếp tục sáng tạo và lan tỏa các giá trị truyền thống; người dân bằng chính cách ứng xử văn minh, thân thiện sẽ góp phần xây dựng hình ảnh Tuyên Quang trong mắt bạn bè quốc tế.
Đó chính là nền tảng để văn hóa đối ngoại trở thành công việc của toàn xã hội chứ không chỉ của một ngành.
Chiến lược văn hóa đối ngoại mở ra cơ hội mới để các địa phương phát huy sức mạnh mềm trong phát triển. Với những giá trị lịch sử, văn hóa, thiên nhiên đặc sắc cùng định hướng phát triển đã được xác lập trong Quy hoạch tỉnh, Tuyên Quang đang có đầy đủ điều kiện để biến lợi thế thành thương hiệu, biến bản sắc thành nguồn lực và biến văn hóa thành động lực của hội nhập.
Triển khai hiệu quả Chiến lược không chỉ là thực hiện một chủ trương lớn của Chính phủ về phát huy sức mạnh mềm quốc gia, mà còn là con đường để Tuyên Quang chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển, nâng cao hình ảnh, sức hấp dẫn và vị thế của tỉnh trên bản đồ hợp tác và hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới./.
Phương Thuận