Việc ban hành Quy chế tạo cơ sở thống nhất để các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh thực hiện đúng quy định trong quá trình tiếp nhận và sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài; đồng thời xác định rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị tiếp nhận viện trợ.
Thống nhất quản lý, bảo đảm công khai, minh bạch và đúng pháp luật
Quy chế áp dụng đối với viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho các cơ quan, tổ chức được thành lập hợp pháp tại Việt Nam trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; đồng thời áp dụng đối với bên cung cấp viện trợ, bên tiếp nhận viện trợ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động quản lý, sử dụng các khoản viện trợ này. Những nội dung không được quy định tại Quy chế thực hiện theo Nghị định số 313/2025/NĐ-CP và các quy định pháp luật hiện hành.
Một trong những nội dung các cơ quan, đơn vị cần đặc biệt lưu ý là Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất quản lý nhà nước về viện trợ trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn quyền hạn với trách nhiệm; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ và phát huy tính chủ động của các sở, ban, ngành, UBND xã, phường, các tổ chức và đơn vị thực hiện.
Việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ phải tuân thủ cam kết viện trợ và pháp luật Việt Nam. Trường hợp cam kết viện trợ có nội dung khác với pháp luật Việt Nam hoặc không phù hợp với pháp luật Việt Nam thì phải áp dụng pháp luật Việt Nam và điều chỉnh cam kết viện trợ; nếu bên cung cấp viện trợ không chấp thuận việc điều chỉnh thì phải dừng tiếp nhận viện trợ. Đặc biệt, không tiếp nhận các khoản viện trợ gây ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng, chính trị, trật tự an toàn xã hội, xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Khoản viện trợ phải được lập hồ sơ, thẩm định và phê duyệt theo đúng trình tự
Theo Quy chế, chủ khoản viện trợ có trách nhiệm lập hồ sơ văn kiện dự án, phi dự án theo Điều 8 Nghị định số 313/2025/NĐ-CP; kết cấu văn kiện thực hiện theo các mẫu tại Phụ lục I, II, III ban hành kèm theo Nghị định này. Đối với khoản viện trợ thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch UBND tỉnh, Sở Tài chính là cơ quan tiếp nhận hồ sơ; trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt thực hiện theo Điều 10 và Điều 11 Nghị định số 313/2025/NĐ-CP.
Đây là nội dung các cơ quan, đơn vị, địa phương và tổ chức có nhu cầu tiếp nhận viện trợ cần đặc biệt lưu ý ngay từ khi trao đổi, xây dựng khoản viện trợ với đối tác nước ngoài. Quy chế quy định các sở, ban, ngành cấp tỉnh, tổ chức chính trị - xã hội, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, UBND các xã, phường và các cơ quan liên quan không để xảy ra trường hợp tiếp nhận khoản viện trợ chưa được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Đối với các khoản viện trợ được cơ quan Trung ương tiếp nhận theo thẩm quyền, phân bổ về địa phương, cần kịp thời báo cáo, xin ý kiến UBND tỉnh trước khi phối hợp thực hiện.
Như vậy, khi cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc tổ chức phi chính phủ nước ngoài đề xuất khoản viện trợ trên địa bàn, các cơ quan, đơn vị cần chủ động rà soát tính chất khoản viện trợ, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ và thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định ngay từ đầu.
Quản lý chặt chẽ từ khi tiếp nhận đến khi kết thúc khoản viện trợ
Quy chế không chỉ điều chỉnh khâu thẩm định, phê duyệt mà còn quy định trách nhiệm quản lý xuyên suốt quá trình thực hiện. Chủ khoản viện trợ phải được xác định trong quyết định phê duyệt tiếp nhận viện trợ và có trách nhiệm tổ chức bộ máy quản lý, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn viện trợ, vốn đối ứng. Đối với dự án có nội dung đầu tư công, đầu tư xây dựng, việc quản lý còn phải tuân thủ pháp luật về đầu tư công, đầu tư xây dựng và các quy định có liên quan.
Một mốc thời gian quan trọng cần lưu ý là chế độ báo cáo. Chủ khoản viện trợ báo cáo UBND tỉnh (qua Sở Tài chính tổng hợp) về tình hình tiếp nhận viện trợ, tình hình thực hiện, giải ngân khoản viện trợ định kỳ 6 tháng, chậm nhất ngày 05/7 và hằng năm, chậm nhất ngày 05/01 của năm tiếp theo. Chậm nhất không quá 6 tháng sau khi kết thúc thực hiện khoản viện trợ, chủ khoản viện trợ tiến hành các thủ tục nghiệm thu, đánh giá các biện pháp cần thiết để khai thác, bàn giao kết quả đạt được cho đối tượng thụ hưởng và gửi báo cáo kết thúc khoản viện trợ đến Bộ Tài chính, UBND tỉnh, Sở Tài chính và Sở Ngoại vụ để theo dõi, tổng hợp.
Việc quản lý tài chính, tài khoản, giải ngân, hạch toán, ghi thu - ghi chi, vốn đối ứng, tiếp nhận viện trợ bằng hàng hóa, thuế, kiểm toán và quản lý tài sản viện trợ phải thực hiện theo Nghị định số 313/2025/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan. Đối với tài sản thuộc khoản viện trợ là nguồn thu ngân sách nhà nước, việc quản lý thực hiện theo pháp luật về quản lý tài sản công.

Hoạt động sinh kế do tổ chức BDI/Úc tài trợ tại tỉnh Tuyên Quang
Xác định rõ đầu mối và trách nhiệm phối hợp
Quy chế quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lý và sử dụng các khoản viện trợ trên địa bàn tỉnh.
Sở Tài chính là cơ quan đầu mối về quản lý và sử dụng khoản viện trợ, tham mưu UBND tỉnh về quản lý tài chính đối với các khoản viện trợ thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế; chủ trì thẩm định văn kiện dự án, phi dự án đối với các khoản viện trợ thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch UBND tỉnh; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ; chủ trì tham mưu UBND tỉnh báo cáo định kỳ hằng năm theo quy định.
Sở Ngoại vụ là cơ quan thường trực Ban Công tác phi chính phủ nước ngoài của tỉnh; phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan thẩm định hồ sơ khoản viện trợ; thẩm định tư cách pháp nhân của bên cung cấp viện trợ là các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và phối hợp thẩm định năng lực của các nhà tài trợ khác; phối hợp với Sở Tài chính hướng dẫn các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện thủ tục trình tiếp nhận viện trợ; phối hợp kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản viện trợ theo quy định.
Các sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, Công an tỉnh, Kho bạc Nhà nước khu vực VIII, Sở Nội vụ thực hiện trách nhiệm theo chức năng, nhiệm vụ được giao tại Quy chế và các quy định pháp luật có liên quan.
Các sở, ban, ngành cấp tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, UBND các xã, phường và các cơ quan liên quan trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, triển khai, quản lý và sử dụng các khoản viện trợ theo quy định; không để xảy ra trường hợp tiếp nhận khoản viện trợ chưa được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Đối với các khoản viện trợ được các cơ quan Trung ương tiếp nhận theo thẩm quyền, phân bổ về địa phương, phải kịp thời báo cáo, xin ý kiến UBND tỉnh trước khi phối hợp thực hiện; đồng thời tham gia thẩm định, đóng góp ý kiến đối với các khoản viện trợ có nội dung liên quan đến lĩnh vực phụ trách; hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị trực thuộc; phối hợp kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ. Khi phát hiện dấu hiệu, hành vi vi phạm, kịp thời báo cáo UBND tỉnh, đồng gửi Sở Tài chính và Công an tỉnh để xem xét, xử lý theo quy định.
UBND các xã, phường giao phòng, ban chuyên môn trực thuộc phù hợp làm đầu mối trong quản lý, sử dụng các khoản viện trợ trên địa bàn.
Chủ động vận động nguồn lực nhưng phải đi đôi với quản lý đúng quy định
Nguồn viện trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ cộng đồng và người dân. Tuy nhiên, hiệu quả của nguồn lực này không chỉ được đo bằng giá trị viện trợ huy động được mà còn phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng nhu cầu, xây dựng dự án phù hợp, hoàn thiện thủ tục ngay từ đầu và tổ chức thực hiện đúng cam kết, đúng quy định pháp luật.
Vì vậy, các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị, UBND các xã, phường và các tổ chức trên địa bàn tỉnh khi có nhu cầu vận động, tiếp nhận viện trợ cần lưu ý một số yêu cầu xuyên suốt: xác định đúng tính chất khoản viện trợ; xây dựng đầy đủ hồ sơ, văn kiện; thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt; chỉ tiếp nhận khoản viện trợ sau khi được phê duyệt theo quy định; quản lý tài chính, tài sản đúng quy định; thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, kiểm tra, giám sát và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Quyết định đồng thời bãi bỏ Quyết định số 38/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của UBND tỉnh Tuyên Quang; Quyết định số 61/2024/QĐ-UBND ngày 29/11/2024 của UBND tỉnh Hà Giang; bãi bỏ số thứ tự 30 Mục II, số thứ tự 108 Mục XI Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định số 764/QĐ-UBND ngày 29/9/2025 của UBND tỉnh.
Việc ban hành và triển khai Quy chế là cơ sở để thống nhất quy trình quản lý viện trợ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang sau sắp xếp đơn vị hành chính; qua đó vừa tạo điều kiện để các cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động kết nối, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển, vừa bảo đảm các hoạt động viện trợ được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, công khai, minh bạch, hiệu quả và tuân thủ pháp luật Việt Nam.
Phương Thuận