Trong bối cảnh tỉnh Tuyên Quang bước vào giai đoạn phát triển mới sau hợp nhất, quy mô phát triển được mở rộng, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát huy hiệu quả nội lực mà còn phải chủ động khai thác các nguồn lực từ bên ngoài. Từ vốn đầu tư, khoa học công nghệ, chuyển đổi số đến thị trường, du lịch và nguồn lực tri thức, tất cả đều đòi hỏi một tư duy đối ngoại năng động, thực chất và hiệu quả hơn.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 83-NQ/TU ngày 20/4/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế giai đoạn 2026-2030, cùng với Chương trình số 175/CTr-UBND ngày 04/5/2026 của UBND tỉnh về nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế giai đoạn 2026-2030 không chỉ là sự cụ thể hóa các chủ trương lớn của Trung ương mà còn thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của tỉnh trong việc đưa đối ngoại và hội nhập quốc tế trở thành một trong những động lực quan trọng phục vụ phát triển nhanh và bền vững.

Đồng chí Hầu A Lềnh, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ chào xã giao Bí thư Châu uỷ Văn Sơn, Vân Nam, Trung Quốc Triệu Quốc Lương
Từ yêu cầu thực tiễn đến một nghị quyết mang tính chiến lược
Nhìn lại giai đoạn 2020-2025, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế của tỉnh đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế địa phương. Toàn tỉnh đã tổ chức 188 đoàn công tác nước ngoài với 1.688 lượt cán bộ tham gia; đón tiếp 524 đoàn khách quốc tế với 3.423 lượt khách đến thăm và làm việc; ký kết và triển khai 127 thỏa thuận quốc tế với các đối tác nước ngoài; tổ chức và tham gia hơn 100 hội nghị, hội thảo quốc tế trong và ngoài nước.
Các hoạt động đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân được triển khai đồng bộ, thực chất. Quan hệ hợp tác giữa tỉnh với các địa phương, tổ chức quốc tế và cơ quan đại diện nước ngoài ngày càng được mở rộng, tỉnh duy trì phát triển quan hệ hợp tác với 11 địa phương nước ngoài, có quan hệ với trên 100 đối tác quốc tế là các cơ quan ngoại giao, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài, các hiệp hội, doanh nghiệp... Nhiều chương trình hợp tác được ký kết và triển khai hiệu quả trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường, giảm nghèo và phát triển cộng đồng.
Hoạt động ngoại giao kinh tế ngày càng được chú trọng. Năm 2025, tỉnh đã cấp mới 03 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký trên 3.600 tỷ đồng. Tính lũy kế đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 25 dự án FDI của 24 nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động với tổng vốn đăng ký trên 6.900 tỷ đồng. Các dự án tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, góp phần tạo việc làm, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất của địa phương.
Cùng với nguồn vốn FDI, các chương trình ODA và viện trợ phi chính phủ nước ngoài tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2025, tỉnh triển khai 05 chương trình, dự án ODA với kế hoạch vốn 1.118 tỷ đồng; giá trị giải ngân đạt trên 515 tỷ đồng, triển khai 61 dự án NGO với tổng giá trị cam kết khoảng 223,9 tỷ đồng; giá trị giải ngân đạt trên 103 tỷ đồng. Các dự án tập trung vào phát triển hạ tầng, giảm nghèo, giáo dục, y tế, phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường.
Hiệu quả của ngoại giao kinh tế còn được thể hiện qua sự tăng trưởng mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh đạt 1,131 tỷ USD, tăng 104,4% so với năm 2024 và đạt 146,9% kế hoạch đề ra. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 918,23 triệu USD, tăng 144,5% so với năm trước. Những con số này cho thấy các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước phát huy hiệu quả, góp phần đưa sản phẩm của tỉnh tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Các đoàn công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch được tổ chức tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ; nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế đã đến khảo sát cơ hội hợp tác tại địa phương. Công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài tiếp tục là điểm sáng khi hàng trăm chương trình, dự án được triển khai tại các địa bàn khó khăn, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, nước sạch và sinh kế.
Đặc biệt, sau hợp nhất tỉnh, Tuyên Quang sở hữu không gian phát triển rộng lớn hơn với diện tích gần 13.800 km², dân số trên 1,8 triệu người và tuyến biên giới dài 277,556 km tiếp giáp với tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Đây là lợi thế chiến lược để mở rộng hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế cửa khẩu, logistics, thương mại biên giới và giao lưu nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế vẫn còn những hạn chế nhất định. Một số hoạt động hợp tác quốc tế chưa thật sự tương xứng với tiềm năng; khả năng thu hút đầu tư nước ngoài còn khiêm tốn; việc khai thác các hiệp định thương mại tự do chưa đạt như kỳ vọng; công tác dự báo, tham mưu chiến lược và chuyển đổi số trong lĩnh vực đối ngoại còn nhiều dư địa để phát triển.
Trong khi đó, bối cảnh mới đang đặt ra những yêu cầu mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xu hướng kinh tế xanh, kinh tế số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ. Các địa phương không chỉ cạnh tranh bằng tài nguyên hay vị trí địa lý mà bằng chất lượng môi trường đầu tư, năng lực hội nhập và khả năng kết nối quốc tế.
Đó chính là lý do Nghị quyết 83 ra đời, nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ về nhận thức và hành động, đưa công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế trở thành nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị, gắn chặt với mục tiêu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới.
Điểm mới nhất của Nghị quyết 83 là sự thay đổi tư duy trong cách tiếp cận công tác đối ngoại.
Nếu trước đây đối ngoại chủ yếu được nhìn nhận như hoạt động mở rộng quan hệ, giao lưu và hợp tác thì nay được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, số và hiện đại; nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Thực tiễn tại Tuyên Quang cho thấy, hiệu quả của đối ngoại không chỉ được đo bằng số lượng đoàn ra, đoàn vào hay các văn bản hợp tác được ký kết. Giá trị lớn nhất của đối ngoại là khả năng chuyển hóa các mối quan hệ quốc tế thành nguồn vốn đầu tư, các dự án phát triển, chương trình viện trợ, công nghệ mới, thị trường tiêu thụ sản phẩm và cơ hội hợp tác cụ thể cho người dân, doanh nghiệp. Hơn 6.900 tỷ đồng vốn FDI đang hoạt động trên địa bàn; hàng nghìn tỷ đồng vốn ODA, viện trợ quốc tế và hàng trăm chương trình hỗ trợ cộng đồng được triển khai trong những năm qua chính là minh chứng rõ nét cho vai trò của đối ngoại trong phát triển địa phương.
Quy mô và điều kiện phát triển mới của tỉnh sau hợp nhất cũng đòi hỏi tư duy mới và cách làm mới trong công tác đối ngoại. Với hệ thống cửa khẩu, các tuyến giao thông kết nối hành lang kinh tế với Trung Quốc và khu vực phía Bắc, Tuyên Quang có điều kiện để tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị xuyên biên giới.
Nghị quyết 83 vì thế không chỉ đặt mục tiêu mở rộng quan hệ hợp tác mà còn hướng tới nâng cao chất lượng hội nhập, gắn chặt các hoạt động đối ngoại với mục tiêu tăng trưởng, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và nâng cao đời sống nhân dân.
Nếu Nghị quyết 83 là định hướng chiến lược thì Chương trình 175 của UBND tỉnh chính là bản thiết kế hành động với nhiều mục tiêu cụ thể và có khả năng đo lường.
Một trong số các mục tiêu được đặt ra đến năm 2030 là thu hút từ 15.000 đến 20.000 tỷ đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến năm 2030. Mục tiêu này cao gấp nhiều lần quy mô vốn FDI hiện nay, cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của tỉnh trong việc tạo bước đột phá về thu hút nguồn lực quốc tế. Nếu được hiện thực hóa, nguồn vốn này không chỉ bổ sung cho đầu tư phát triển mà còn góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế địa phương.
Song song với đó, tỉnh đặt mục tiêu hằng năm tổ chức từ 2 đến 3 hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch quốc tế; ký kết mới từ 3 đến 5 chương trình hợp tác quốc tế; thiết lập quan hệ với từ 10 đến 20 đối tác quốc tế mới trong các lĩnh vực ưu tiên như đầu tư, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, du lịch và chuyển đổi số.
Điều đáng quan tâm Chương trình 175 không dừng ở các chỉ tiêu về số lượng mà hướng tới hiệu quả thực chất. Tỉnh đặt mục tiêu hình thành các mô hình hợp tác hiệu quả trong nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số; từng bước đưa các sản phẩm chủ lực tiếp cận ổn định thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế toàn cầu, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số đối ngoại, số hóa hồ sơ, dữ liệu về thỏa thuận quốc tế, đoàn ra - đoàn vào, thu hút đầu tư FDI, ODA, viện trợ phi chính phủ nước ngoài và các hoạt động hợp tác quốc tế được xem là bước đi quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời hỗ trợ công tác dự báo, tham mưu chiến lược.
Một điểm mới khác là yêu cầu nâng cao chất lượng thực hiện các thỏa thuận quốc tế. Thực tế cho thấy, hiệu quả của đối ngoại không nằm ở số lượng văn bản được ký kết mà ở khả năng chuyển hóa các cam kết thành dự án, chương trình và kết quả cụ thể phục vụ phát triển địa phương.
Những mục tiêu đó cho thấy quyết tâm đưa hội nhập quốc tế từ chiều rộng sang chiều sâu, từ hợp tác đơn thuần sang hợp tác mang lại giá trị gia tăng và hiệu quả phát triển.

Ngài Thomas Gass – Đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam và Bà Ramla Khalidi - Trưởng Đại diện Chương trình phát triển của Liên hợp quốc UNDP thăm và làm việc tại Tuyên Quang
Phát huy sức mạnh tổng hợp của ba trụ cột đối ngoại
Để thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 83, yêu cầu đặt ra là phát huy sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Từ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước đến đối ngoại nhân dân đều hướng tới mục tiêu chung là mở rộng hợp tác, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển. Trong đó, ngoại giao kinh tế tiếp tục được xác định là trọng tâm xuyên suốt. Mỗi hoạt động đối ngoại cần hướng tới mục tiêu cụ thể là thu hút đầu tư, mở rộng thị trường, tiếp nhận công nghệ, quảng bá sản phẩm và hỗ trợ doanh nghiệp địa phương và tranh thủ các nguồn lực phục vụ phát triển.
Cùng với đó, ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại, công tác biên giới lãnh thổ, các hoạt động đối ngoại trong các lĩnh vực có vai trò quan trọng trong xây dựng hình ảnh địa phương năng động, thân thiện và giàu bản sắc. Đây là yếu tố ngày càng có ý nghĩa trong cạnh tranh thu hút đầu tư, khách du lịch và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Biến lợi thế thành động lực tăng trưởng
Việc hợp nhất đã tạo điều kiện để các tiềm năng, lợi thế của tỉnh được bổ trợ cho nhau rõ nét hơn, từ kinh tế cửa khẩu, du lịch, nông nghiệp đặc trưng đến các giá trị lịch sử, văn hóa và tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, tuyến biên giới dài với Trung Quốc mở ra cơ hội lớn để phát triển kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy thành trung tâm giao thương, logistics và hợp tác kinh tế xuyên biên giới. Theo Quy hoạch tỉnh, Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy được định hướng phát triển thành khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực; từng bước hình thành khu thương mại tự do, trung tâm logistics và cửa ngõ giao thương quốc tế của tỉnh.
Lĩnh vực du lịch cũng có nhiều lợi thế đặc biệt. Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào - Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến - được xác định trở thành điểm đến du lịch về nguồn hàng đầu cả nước; là địa chỉ đỏ có giá trị đặc biệt trong giáo dục truyền thống và ngoại giao văn hóa. Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn tiếp tục là thương hiệu quốc tế quan trọng, tạo nền tảng để mở rộng hợp tác với mạng lưới các công viên địa chất toàn cầu, thu hút khách quốc tế và phát triển du lịch bền vững.
Bên cạnh đó là hệ thống di sản lịch sử, văn hóa đặc sắc; cảnh quan thiên nhiên phong phú; các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng như chè Shan tuyết, cam sành, mật ong bạc hà, dược liệu và nhiều sản phẩm OCOP có tiềm năng xuất khẩu.
Trong bối cảnh thế giới đang hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, đây chính là những lĩnh vực có khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư mới, các chương trình hợp tác quốc tế và các dự án hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế, nhà đầu tư nước ngoài.
Việc đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số cũng tạo điều kiện để địa phương rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực quản trị và tăng khả năng kết nối với thế giới.
Mở rộng cánh cửa phát triển từ đối ngoại
Đối với Tuyên Quang, Nghị quyết số 83-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Chương trình số 175/CTr-UBND của UBND tỉnh không đơn thuần là những văn bản chỉ đạo mà thể hiện quyết tâm đưa công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế gắn chặt hơn với yêu cầu phát triển của địa phương trong giai đoạn mới.
Nhìn lại những năm qua, từ các dự án đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn, những công trình được triển khai bằng nguồn vốn ODA, các chương trình viện trợ quốc tế hỗ trợ người dân vùng khó khăn, đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu và du lịch, có thể thấy đối ngoại đã và đang tạo ra những giá trị cụ thể cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong giai đoạn 2026-2030, khi Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy được định hướng trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế, Tân Trào tiếp tục khẳng định vị thế là điểm đến lịch sử - văn hóa tiêu biểu, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn mở rộng kết nối với mạng lưới đối tác quốc tế, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quan hệ hợp tác mà còn phải chuyển hóa hiệu quả các mối quan hệ đó thành nguồn lực phục vụ phát triển.
Đó cũng là mục tiêu của Nghị quyết số 83-NQ/TU và Chương trình số 175/CTr-UBND để mỗi hoạt động đối ngoại mang lại thêm cơ hội đầu tư, thêm thị trường cho sản phẩm địa phương, thêm nguồn lực cho an sinh xã hội và thêm động lực cho tăng trưởng. Khi đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế sẽ thực sự trở thành một trong những động lực quan trọng góp phần đưa Tuyên Quang phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng trong những năm tới./.
Phương Thuận