Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác hội nhập quốc tế của Việt Nam đã và đang trở thành một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao vị thế quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng và mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại. Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/1/2025, của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đã đặt ra những mục tiêu, định hướng chiến lược nhằm triển khai mạnh mẽ, toàn diện và hiệu quả công tác hội nhập quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực tham gia vào các cơ chế đa phương, khu vực và song phương, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ mới.
Xác định hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trung tâm, lâu dài và có tính chiến lược, đồng thời là công cụ quan trọng để Việt Nam nâng cao sức mạnh tổng hợp, phát triển toàn diện và giữ vững độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia – dân tộc.
Các mục tiêu cơ bản được Nghị quyết đề ra bao gồm: (1) Mở rộng quan hệ đối ngoại toàn diện (2) Tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế (3) Bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia (4) Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân (5) Hoàn thiện thể chế, pháp luật, cơ chế chính sách.
Để đảm bảo triển khai có hiệu quả công tác hội nhập quốc tế trên thực tế, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Trước tiên, thông qua việc thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW, Việt Nam khẳng định tinh thần chủ động, sáng tạo, tự tin và linh hoạt trong hội nhập quốc tế, đồng thời tạo ra những lợi thế cạnh tranh bền vững trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và khoa học công nghệ.
Đổi mới tư duy và trong nhận thức, hội nhập quốc tế phải là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, động lực, lực lượng chủ công và đối tượng thụ hưởng các lợi ích của hội nhập quốc tế. “Hội nhập nhưng vẫn giữ bản sắc dân tộc, hội nhập, hòa nhập chứ không hòa tan”. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hội nhập quốc tế, các yêu cầu, nhiệm vụ, cơ hội, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của Việt Nam trong hội nhập quốc tế cần được phổ biến, quán triệt sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
Tư duy về “Hội nhập quốc tế phải trên cơ sở nội lực có vai trò quyết định, gia tăng nội lực đi đôi với với tranh thủ ngoại lực” Nội lực là nguồn lực chính, là gốc rễ cho sức mạnh, vì vậy phải luôn được phát huy để đảm bảo tính chủ động, độc lập, tự cường nhưng đồng thời, cần tranh thủ cao độ mọi nguồn lực từ bên ngoài để kết hợp và bổ sung cho nội lực. Kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh cho chúng ta trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tư duy phải coi hợp tác quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, “hợp tác để đấu tranh và đấu tranh để hợp tác. Tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, sẵn sàng đóng góp cho những nỗ lực chung của khu vực và thế giới. hội nhập kinh tế được xác định là trung tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế với ưu tiên hàng đầu là cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số. Tập trung vào các ngành có lợi thế và tiềm năng, ưu tiên huy động nguồn lực cho những lĩnh vực, dự án then chốt như của hạ tầng chiến lược về giao thông, về năng lượng như đường sắt tốc độ cao, đường cao tốc, hệ thống cảng biển, sân bay; nhà máy điện hạt nhân, điện gió, điện mặt trời; giảm phát thải và trung hoà các-bon để tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Cần tận dụng hiệu quả các cam kết, thỏa thuận, liên kết kinh tế quốc tế, nhất là các FTA thế hệ mới, để tăng cường đan xen lợi ích, không để phụ thuộc vào một số ít đối tác. Hoàn thiện thể chế trong nước nhằm nâng cao năng lực thực thi các cam kết, thoả thuận quốc tế. Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực mới nổi, quan trọng, động lực mới cho tăng năng suất lao động như công nghệ thông tin, viễn thông, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo
Phát triển tính “đồng bộ, toàn diện, sâu rộng”, trong đó các lĩnh vực phải gắn kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau trong một chiến lược tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm với lộ trình và bước đi phù hợp. (1) Hội nhập về chính trị, an ninh, quốc phòng phải hướng tới mục tiêu nâng cao tiềm lực, vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. (2) Hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới việc đưa các chuẩn mực, quy định về khoa học, công nghệ trong nước tiệm cận với các chuẩn mức, thông lệ quốc tế tiên tiến. (3) Hội nhập toàn diện về văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục-đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác. Đích đến cao nhất đó là xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam của “thế hệ vươn mình”, để đến năm 2045 những chàng trai, cô gái tuổi mười tám, đôi mươi “sánh vai” cùng bạn bè quốc tế cả về trí tuệ và thể chất.

Đồng chí Hầu A Lềnh, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Tuyên Quang hội đàm với đồng chí Trần Cương, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây chiều ngày 10/02/2026 (Ảnh: Tuyên Quang Online).
Trong hội nhập, sẽ cần phải tập trung khắc phục điểm nghẽn về thực thi cam kết, thỏa thuận quốc tế và đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, chính sách. Trong đó, đẩy mạnh việc rà soát, nội luật hoá pháp luật quốc tế để thực hiện đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả các nghĩa vụ, cam kết của ta. Đồng thời, thể chế hoá, cụ thể hoá các chiến lược hội nhập quốc tế theo ngành, lĩnh vực, nhất là xây dựng, hoàn thiện pháp luật liên quan đến kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, giảm phát thải các-bon.
Đối với tỉnh Tuyên Quang, cần thực hiện tốt các giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, Triển khai đồng bộ các nội dung Nghị quyết 59-NQ/TW và Chương trình số 07-CTr/TU ngày 13/8/2025 của BCH Đảng bộ tỉnh về hội nhập quốc tế - Tham mưu thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh thực hiện Nghị quyết 59-NQ/TW của tỉnh về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo. Tổ chức các lớp cập nhật kiến thức đối ngoại, hội nhập quốc tế cho đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của Tỉnh, cán bộ làm công tác đối ngoại các sở, ban, ngành, các xã.
Thứ hai, Duy trì tốt, hiệu quả trong hợp tác với 11 địa phương tỉnh đã ký kết hợp tác cấp địa phương của huyện Imsil, tỉnh Jeonbuk; thành phố Anseong, tỉnh Gyeonggi, quận Boeun, tỉnh Chungcheongbuk (Hàn Quốc), thành phố Moriya, tỉnh Ibaraki (Nhật Bản), tỉnh Benguet (Philippin), vùng Lohmen và vùng Zehna, huyện Gustrow-land, bang MV (Đức); tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc), tỉnh Xiêng Khoảng và Phông Sa Lỳ (Lào). Trong đó chú trọng việc tăng cường tham mưu triển khai các hoạt động giao lưu đối ngoại Đảng, đặc biệt với cấp ủy tỉnh Vân Nam, Khu ủy khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, cấp ủy châu Văn Sơn và cấp ủy biên giới với Trung Quốc, tạo nền tảng chính trị để thúc đẩy phát triển toàn diện quan hệ hợp tác với các địa phương của Trung Quốc.
Thứ ba, Mở rộng, ký kết hợp tác với địa phương các nước; các tổ chức quốc tế; các đối tác nước ngoài, tích cực phối hợp với Sở Văn hóa, thể thao Du lịch tỉnh Mở rộng đối tác, ký kết hợp tác với các công viên địa chất thuộc mạng lưới công viên địa chất toàn cầu UNESCO và các công viên địa chất trong nước để bảo tồn, phát huy và quảng bá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn.
Thứ tư, Tổ chức sự kiện/hội nghị quảng bá địa phương “Giới thiệu Tuyên Quang” với các đối tác, nhà đầu tư, các hiệp hội, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, Đại sứ quán các nước, các tổ chức phi chính phủ, nhà ngoại giao… nước ngoài để kết nối với các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam để thực hiện chương trình giao lưu văn hóa, học bổng, nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh. Thông qua đó trao đổi các khó khăn, vướng mắc (nếu có) tìm hướng giải quyết khúc mắc phát sinh.
Thứ năm, đổi mới tư duy trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ, kỹ năng hội nhập, kiến thức pháp luật quốc tế, kỹ năng đàm phán, xúc tiến quốc tế. Đẩy mạnh nâng cao năng lực số, kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế; từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Cuối cùng, hội nhập quốc tế chỉ thành công khi hội nhập trở thành văn hóa tự giác của mọi tổ chức cá nhân, doanh nghiệp, địa phương; phát huy được vai trò trung tâm, sự tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo của cả người dân, doanh nghiệp, địa phương trong gắn kết hội nhập quốc tế và hội nhập trong nước, kết nối giữa các vùng, miền, địa phương, kết nối giữa các ngành, lĩnh vực, kết nối giữa nghiên cứu và triển khai... để đưa hội nhập thành các kết quả cụ thể.
Trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau như ngày nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Noi gương Bác, chúng ta phải bắt nhịp với sự vận động của thế giới, tìm ra con đường mang lại hòa bình, ổn định, thịnh vượng, phát triển và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước trong kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Mao Quốc Toản - Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ